05:56 ICT Chủ nhật, 21/01/2018

LIÊN KẾT WEBSITE

VIDEO

Loading the player...

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức nổi bật » Tin Nhà trường

TRUYỀN THỐNG VĂN HỌC HÀ TĨNH

Chủ nhật - 07/01/2018 20:39
Mộ Nguyễn Biểu

Mộ Nguyễn Biểu

 
I.TRUYỀN THỐNG VĂN HỌC HÀ TĨNH 

       “Văn học là nhân học ” là một loại khoa học đặc biệt về con người. Con người vừa là một đối tượng của văn học vừa là chủ nhân của thứ sản phẩm kì diệu này.
Khí thiêng non nước Lam Hồng từ nghìn xưa đã hun đúc cho người Hà Tĩnh những đức tính quý giá: thông minh, cần cù, kiên cường ,dũng cảm, hiếu học , yêu cái đẹp và biết trọng đạo lí. Có lúc ,có nơi đặc tính kia của người Hà Tĩnh từng bị đẩy đến mức cực đoan và chúng hòa quện vào nhau tạo nên nhân cách con người  nơi đây, đi đâu cũng không thể trộn lẫn được.Chính nhân cách này là nhân tố quan trọng nhất đế làm nên truyền thống văn học độc đáo,đa da dạng; thời nào, bộ phận nào cũng tựu có những thành tựu kiệt xuất.
    Trước hết phải kể đến văn học dân gian – nền tảng của bất cứ lâu đài văn học nào. Trải qua hang mấy nghìn năm văn học sinh tồn, người Hà Tĩnh đã tạo ra cho mình một gia tài văn học dân gian đồ sộ quý giá. Nói đến dân ca Việt Nam , ai cũng biết dân ca xứ Nghệ. Điệu Ví làn Giặm nơi đây là làn sữa ngọt ngào nuôi lớn những nhạc sĩ ,thi sĩ danh tiếng: Trânf oàn ,Nguyễn Văn Tí,An Thuyên ,vv.. các nhà thơ : Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Xuân Diệu, Trần Hữu Thung…những áng thơ, ca khúc trữ tình sang  giá mãi ngân nga trong lòng người.
     Nói đến dân ca Hà Tĩnh, trước hết phải nói đến điệu Ví. Ví cũng là hát- hát đối đáp trữ tĩnh thể hiện tình yêu đôi lứa nam nữ như dân ca các vùng khác. Lời đối đáp thường theo thể lục bát hoặc lục bát biến thể. Nhưng gọi là Ví vì lời hát giàu hình ảnh ví von so sánh… Làn điệu Ví tuy đơn giản hơn Dân ca các vùng khác nhưng tâm tình dạt dào, sâu lắng:
                                                      Hồng sơn cao ngất mấy tầng
                                                      Dù cao mấy trượng thì long bấy nhiêu.
 Và nồng nàn tình sâu nghĩa nặng :
                                                         Muối ba năm muối đang còn mặn
                                                       Gừng chin tháng gừng vẫn còn cay
                                                       Đôi ta tình nặng nghĩa đầy
                                                       Dù có  xa nhau đi chăng nữa thì ba vạn chin ngàn ngày mới xa.
      Ví rất gần gũi với người lao động , nó hình thành ở khắp mọi miền quê. Người đi cấy có ví phường cấy, người hái củi có ví phường củi. Ví phường vải là đỉnh cao của hát ví . Lời lẽ thì duyên dáng, điêu luyện. Tâm tình thì phong phú, trong sáng, tế nhị. Tương truyền loại hát ví này  còn  thu hút cả các nho sĩ trí thức như Nguyễn Du.
     Nhưng hát Giặm mới là đặc sản của người xứ Nghệ. Lời hát thường gắn teo thể thơ năm chữ, khúc hát thường có nhiều khổ, mỗi khổ thường năm câu. Được gọi là Giặm vì câu thứ năm thường lặp lại nguyên lời hoặc một phần lời và giữ nguyên điệu. Hơn nữa người ta thường giặm một số câu để có thể kéo dài khổ hát ra. Nhịp của Giặm là 3/2, nhạc điệu gấp gáp, dồn dập nên có thể diễn tả được nhiều cung bậc tình cảm. Nếu như ví phô diễn tâm tình trực tiếp thì Giặm với tư cách là thơ, điệu nói nó có thể dựng lại những trường đoạn tâm tình phức tạp thong qua lối kể chuyện :
                                                       Khi mô lươn lên rừng / mần tổ
                                                        Vượn chống nôốc / đi buôn
                                                       Ruồi đõ gãy / cành cơn
                                                       Nước đổ thấm  lá môn
                                                       Anh với em / xa ngái
                                                      Thiếp với chàng / xa ngái.
        Lời hát của Giặm cũng có thể là hát đối đáp vừa có thể là đơn ca, thông thường nó lắp ghép với ví để tạo nên những cuộc hát sinh động sôi nổi. Cũng như Ví, Giặm rất phổ biến ở Hà Tĩnh. Đến nồi Vè cung làm theo thể Giặm. Vè là thể loại báo chí dân gian. Nó vừa thông tin tuyên truyền, cừa phê phán đả kích những vấn đề  thời sự của làng  xã. Vì theo thể giặm nên vè Hà Tĩnh cũng có thể nói cũng có thể hát . Tiêu biểu có vè Bang –Ninh, vè “ phụ tử tình thâm”….
       Ngoài ra,trong lời ăn tiếng  nói của người Hà Tĩnh, tục ngữ câu đố cũng là một ,bộ phận phong phú.Chúng thể hiện cách nói độc đaó cùa người xứ Nghệ. Chỉ có  người Hà Tĩnh nói được câu này:” chim gà, cây cau, nhân ngãi vợ, đầy tớ con ”.
        Bên cạnh thơ ca  dân gian, người Hà Tĩnh cón có một kho tàng truyện cổ đồ sộ. Nơi “đất cổ, nước non nhà”, với quần cư dân người Việt sinh tụ lâu đời đã tạo ra những pho thần thoại, sự tích  suy nguyên hoặc các truyền thuyết về anh hùng cứu nước, danh nhân văn hóa. Trong đó có truyện cười  nói trạng thâm thúy,hài hước đã thể hiện sức mạng tinh thần của người Hà Tĩnh. Thần thoại thì phải nói đến truyện ông Đùng( ông khổng lồ ) đội trời đạp đất kiến tạo giang sơn xứ Nghệ. Truyền thuyết về Mai Hắc Đế, Phùng Hưng , Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Đặng Tất, Đặng Dung,…là những câu chuyện hào hùng, bi tráng về những con người của Hà Tĩnh từng xả thân cho quê hương đất nước.Cổ tích đã bị truyện cười hóa, được lưu truyền rộng rãi là truyện cố Bợ.
     Tóm lại truyền thống văn học Hà Tĩnh cực kì sâu rộng. Thể loại nào cũng có thành tựu độc đáo. Trên các nền đó, người Hà Tĩnh đã  xây nên tòa lâu đài văn học viết tráng lệ của mình. Gần 9 (chín ) thế kỉ văn học viết phong kiến , thiên hạ đã nhiều phen cúi đầu ngưỡng mộ những kiệt tác của các bậc danh sĩ.
      Trong văn học yêu nước chống xâm lược, chất bi tráng có tác phẩm “ Ăn cỗ đầu người ” của Nguyễn Biểu, “ Cảm hoài ” của Đặng Dung.
       Trong văn học hiện thực từ thế kỉ thứ XV đến thế kỉ XIX, chiều sâu hiện thực,tầm cao nhân văn trong“ Truyện Hoa Tiên” của Nguyễn Huy Tự, “truyện Kiều” của Nguyễn Du,“ Thượng kinh kí sự ”của Lê Hữu Trác
        Trong khoảng hơn bốn mươi năm văn học đầu thế kỉ XX có Hoàng Ngọc Phách có tiểu thuyết “Tố Tâm”, Xuân Diệu với “ Thơ thơ”, “ Gửi hương cho gió ”,Huy Cận với “ Lửa thiêng”- người được coi là ông tổ của tiểu thuyết lãng mạn hiện đại, được tôn vinh là “ ông hoàng” của thơ mới. Sự đóng góp của văn học viết Hà Tĩnh cho văn học dân tộc quả là lớn lao. Mỗi thời đại đều có những tác giả giương ngọn cờ đầu,tất cả sự vĩ đại đó đều trưởng thành tự mảnh đất màu mỡ của Giặm, Vè và Cổ tích.Từ sinh khí của quê hương Hà Tĩnh là mọt truyền thống và luôn là thành trì của văn học dân tộc.
 
II. VĂN HỌC HÀ TĨNH LUÔN SÁNG NGỜI CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC
 
    Có thể nói yêu nước là xả thân vì nước, là truyền thống của dân tộc ta.Hơn bất cứ nơi đâu,người Hà Tĩnh trong hàng ngàn năm lịch sử đã tôi luyên cho mình một truyền thống anh hùng cao đẹp. Anh hùng xuất phát từ lòng yêu nước. Yêu nước là yêu xóm làng, quê hương, ngọn núi con sông, cánh đồng, cửa bể. Yêu cái nôi từ bao đời” Cha truyền con nối”, người Hà Tĩnh đã bao đời để công sức, máu xương khai phá,giữ gìn.
    Thiên nhiên khắc nghiệt, giặc giã càng hung bạo thì tinh thần  xứ Nghệ lại càng sáng chói. Nên trong câu ca về cảnh đẹp quê hương:
                     Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
              Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
                   Ai vô xứ Nghệ thì vô. 
     Đến thời Tổ quốc lâm nguy, quê hương dậy lửa thì người Hà Tĩnh lại hát tiếp khúc tráng ca bất tử. Dường như trong mỗi khúc ca về tình yêu đất nước của người Hà Tĩnh đều hàm sẵn ý sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương. Núi Hồng sông Lam là biểu tượng của quê hương đồng thời  là biểu tượng hội tụ tình cảm con người, tình yêu đôi lứa, tình bạn, niềm tự hào, lòng căm thù giặc, tinh thần đấu tranh… Xưa người Hà Tĩnh hát:” Bao giờ Ngàn Hống hết cây ,sông Lam hết nước ,đó với đây mới hết tình”. Đến lúc” Quốc gia hữu sự” quê hương giặc giã thì họ lại hát:” Bao giờ Ngàn Hống hết cây,sông Lam hết nước thù mới nguôi” .
    Nhưng cách nói ấy đã vĩnh cửu hóa được tâm tình người Hà Tĩnh. Truyện cổ Hà Tĩnh có một bộ phận lớn giành để ca ngọi các anh hùng liệt sĩ đã hi sinh vì quê hương đất nước. Truyền thống yêu nước trong văn học Hà Tĩnh đậm đà chất anh hùng. Bài thơ “ Ăn cơ đầu người ” của Nguyên Biểu và “ Cảm hoài” của Đặng Dung chẳng phải đãchinh phục lòng người xưa nay với chất bi tráng của chủ nghĩa anh hùng yêu nước mãnh liệt đó sao ? Đến như thơ của một nữ sĩ Nguyễn Thị Quyên( bà Tú Ý ) thì có thể nói “ Ưu thời mẫn thế” trước cảnh giặc Pháp xâm lược đất nước còn hơn tiếng lòng của đấng mày râu:
                                                              Thế sự như nay đã rối bời
                                                               Đá vàng âu cũng đổ mồ hôi
                                                               Nom lên Hồng Lĩnh ,mây bay ngược
                                                              Ngó xuống Lam giang nước chảy xuôi
                                                               Còn nước,còn non,còn tri kỉ
                                                              Có trời ,có đất,có vua – tôi
                                                             Ai về nhắn với phường tri kỉ
                                                            Phải tính sao đây, hả các người.
    Đặc biệt trong thơ tù của các chiến sĩ cộng sản Hà Tĩnh, thì tình cảm yêu nước, tinh thần đấu tranh cho độc lập tự do Tổ quốc đã trở thành lí tưởng : 
                                                            Vì nghĩa búa liềm,lòng quyết tử
                                                             Nên tình chăn gối phải hi sinh.”
                                                         
                                                                                                                                                               ( Tự học và sưu tầm)
 

Tác giả bài viết: Đặng Văn Thân

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

TIN BÀI MỚI NHẤT

VĂN BẢN GIÁO DỤC

LIÊN KẾT ỨNG DỤNG

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 5


Hôm nayHôm nay : 18

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 1664

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 60458